Thứ Ba, 26 tháng 4, 2016
Định Mệnh- Miền Nam Hấp Hối
Bút Ký: Định Mệnh
Miền Nam Hấp Hối
Tác giả: Thanh Hiền-Dị Nhơn
Copyright 2004 by author
Miền Nam Hấp Hối
Tác giả: Thanh Hiền-Dị Nhơn
Copyright 2004 by author
Miền Nam Hấp Hối
Thịt tan xương nát bãi mìn
Đường về Xuân Lộc dân tình tang thương
Miền Nam thành bãi chiến trường
Bốn vùng chiến thuật cùng đường sa cơ
Gió đưa mưa ghé rừng mơ
Hát bài lòng mẹ đắng bờ biển thương
Thái Bình vẫn rộng ngàn phương
Mà lòng của mẹ như dường hẹp đi
Sandy đã nghĩ làm cho PX, việc làm mới là nhân viên an ninh cho Word Wide (DAO) với đồng lương khá hơn, công việc bắt đầu từ tháng 8- 1973, đồng phục mầu navy đậm. Anh làm chung với Dick Berry, chồng chị Thanh. Sau một tháng làm cho DAO, ngày 3-9-1973 , anh chở tôi đến nhà băng Chase Manhattan mở trương mục riêng cho tôi, tiền hưu quân đội mỗi tháng từ Mỹ chuyển thẳng qua trương mục của tôi. Một việc thật là bất ngờ mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến, tôi xem đó như là một phần thưởng cho tánh nhẫn nhục và không đòi hỏi của mình, tôi gây được lòng tin tưởng nơi anh.
Anh vẫn thường được thư chị Edith, chị bảo anh phải chuyển tên trong bảo hiểm, và cho biết vợ trước của anh dùng tên anh làm điều phạm pháp nên có trát toà, chị báo cho toà biết là em tôi đã từ lâu ở bên Việt Nam thì làm sao làm điều phạm pháp được. Anh cũng được thư của một người phụ nữ, bảo là bà đi tìm chồng vì chồng bà không cấp dưỡng, nên con cái rất là khổ, thì ra chồng bà là chồng sau của vợ trước của Sandy, có lẽ bà nghĩ là Sandy biết người vợ trước đang ở đâu, sự thật thì Sandy không biết, khi anh giải ngủ thì không còn cấp dưỡng cho vợ trước nữa.
Gió đưa mưa ghé rừng mơ
Hát bài lòng mẹ đắng bờ biển thương
Thái Bình vẫn rộng ngàn phương
Mà lòng của mẹ như dường hẹp đi
Bang... bang... bang..., tôi chợt tỉnh khi nghe tiếng súng, nhìn đồng hồ chưa tới 5 giờ sáng, Sandy đã thức, anh còn trong nhà tắm chưa ra nên không nghe tiếng súng . Vén màn cửa tôi nhìn ra ngoài thấy một thanh niên nằm bất tỉnh gần gốc cây, cạnh bên mấy cái ghế xếp ngả nghiêng, tôi lại nghĩ là tiến ghế đổ mà mìng nghe lầm là tiếng súng, chợt thấy 2 người lính an ninh của Đại tá Duyên đến, họ nhìn tử thi xầm xì to nhỏ rồi bỏ đi. Khi mở cổng cho Sandy đi làm thì người thanh niên vẫn còn nằm đó không nhúc nhích, qua ánh đèn đường tôi thấy phía dưới quần bị ướt, nên nghĩ là anh ta say quá nên tè bậy quần, đến khi vào trong nhà tôi chợt nghe tiếng rên kêu cứu vọng vào.
Tôi vốn ghét dân say nên làm ngơ giả điếc còn lầm bầm "say xỉn chết cũng đáng kiếp". Tôi thắc mắc sao gã không kêu cha mẹ mà lại kêu người ngoài, có lẽ hắn là trẻ mồ côi cũng nên? Bởi gần chợ An Đông lại thấy mấy cái ghế nên tôi nghĩ hắn dọn hàng. Tôi với con hay đi ngõ sau, lúc con gái đi học, nóquay vào cho biết có người chết đang nằm trước nhà.
Lúc ấy thì người hiếu kỳ và Cảnh Sát đã đông đầy. Nạn nhân còn rất trẻ, gã bị trúng đạn nơi bọng đái, khi dời tử thi thì máu ới chảy ra, nếu biết gã trúng đạn thì tôi không thờ ơ như vậy, thì ra gã đến trộm ghế của xe sinh tố của chị Oanh gần trước nhà Đại tá Duyên và bị an ninh bắn. Gia đình gã giầu có, họ đến nhưng không nhận xác, không khiếu nại, gã đi bụi đời đã lâu, lậm vào ma tuý nên gia đình từ bỏ, không tiền hút nên quay ra ăn trộm.
Chết là hết! Tại sao cha mẹ lại hẹp hòi từ bỏ, để linh hồn người chết chẳng có nơi nương tựa. Tôi lại nghĩ đến chị tôi, giờ xác chẳng biết vùi dập nơi nào? Chị chết vì Tổ quốc, một sự hy sinh vô danh mà đã gần 20 năm qua rồi mà má vẫn chưa tha thứ cho chị. Tôi chợt thấy đắng ngắt vì lòng mẹ không bao la như biển Thái Bình mà nó hẹp hơn cái lạch nhỏ.
Chết bên chiếc ghế vô tri
Giữa lòng phố thị kinh kỳ sa hoa
Thái Bình biển vẫn bao la
Đâu tình yêu mến vị tha mẹ hiền
Xác gã bụi đời chẳng biết vùi dập nơi đâu? Vũng máu cạnh gốc cây lau chùi không còn dấu vết. Mỗi khi mở cổng tôi vẫn còn cảm tưởng gã vẫn nằm đó chết cô đơn bên cạnh gốc cây sần sùi với mấy chiếc ghế vô tri giữa phố phường rộn rịp. Mấy rễ cây như hai cánh tay gã bụi đời đang bám víu trong tuyệt vọng! Bởi xã hội này đã khai sanh những đứa trẻ bụi đời ghiền ma tuý, những đứa con ngoại lai đen trắng mà xã hội không chấp nhận, những đứa con vô thừa nhận của cha mẹ vô trách nhiệm, khi lớn lên bị mặc cảm bị bỏ rơi, như trường hợp của con gái tôi. Một hôm đi học về thấy nó khóc, tưởng con gây lộn trong trườg, ai ngờ nó đột ngột hỏi:
-Con muốn biết.... má có đi bán bar không?
Tôi sửng sốt nhìn con mà thấy đau buốt trong tim, thì ra mấy đứa bạn trong xóm bất hoà với nó rồi mỉa mai " má mầy đi bán bar ".
Thì ra trong con mắt của mọi người những người có chồng Mỹ đều làm nghề bán bar . Tôi nâng cầm nó lên và nhìn thẳng vào mắt con trả lời thật chậm và rõ:
-Má đâu có dối con! Má chưa bao giờ đi bán bar!
Lời bịa đặt dù vô tình hay cố ý cũng đã làm cho con tôi tủi thân và hổ thẹn, vì má mình "lấy Mỹ", được gán vào thành phần xấu trong xã hội. Con bị bạn trong lớp trêu chọc là không có cha, giờ lại bị trâu chọc má đi bán bar. Tội nghiệp cho con tôi phải gánh tất cả lỗi lầm của cha mẹ gây ra.
Sàigòn đạn pháo buồn ru
Vòng đai phòng thủ giặc thù còn vây
Sài gòn người vẫn còn say
Hô hào phản chiến từng ngày không yên
Khi phiên họp ngày 25-5-1974, Hạ Viện Mỹ không đồng ý gia tăng dự biểu viện trợ quân sự hơn 1.1 26 tỷ đồng cho VNCH trong tài khoá 1975. Cái quyết định bỏ rơi miền Nam của Quốc Hội và dân chúng Mỹ đã thấy rõ. Tình hình của Mỹ cũng rối ben, lớp biểu tình phản chiến, thên Phó Tống Thống Mỹ Spiro T.Agnew bắt buộc phải từ chức vì tội trốn thuế. Đến ngày 9-8-1974 đến lượt Tổng Thống Nixon phải từ chức vì liên quan vào vụ Watergate, người lên thay thế là Phó Tổng Thống Geral R .Ford, đại sứ VN vẫn là ông Graham Martin.
Tại Sài gòn ngày 8-9-1974, phong trào chống tham nhũng do Limh mục Trần Hữu Thanh cầm đầu, các Linh mục Bình Định, Nguyễn Học Hiệu cùng bác sĩ Nguyễn Thị Thanh phụ lực, qua một bản "tuyên ngôn" , được sự bảo trợ của 301 Linh mục khác, kể cả "Tuyên uý Công Giáo", ra mắt tại giáo xứ Tân Việt Sài gòn.
Cuộc biểu tình kéo dài cho đến năm 1975, những cuộc biểu tình chống chính phủ của nhóm Linh mục Trần Hữu Thanh, có sự tham gia của một số chính khách, lãnh tụ đảng phái, cộng với việc Hội đồng giám VN, phổ biếh "thư chung", kêu gọi các nhà thờ toàn quốc "chống tham nhũng", thúc đẩy giáo dân xuống đường rầm rộ, liên tục, đã khiến cho các binh sĩ tuyền tuyến chán nản, mất tinh thần, và ảnh hưởng tai hại sự sống còn của đất nước.
Bên cạnh phong trào của Linh mục Trần Hữu Thanh, còn có các nhóm tay sai CS và thân Cộng, là các Linh Mục Trương Bá ,Thanh Lãng, Hoàng Công Minh, Lương Đình Bích, Hồ Thành Biện, Nguyễn Thành Trinh. Nhóm đối diện của Linh mục phản chiến Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ, Nguyễn Hũu Khai... Trong mấy tháng cuối cùng, đã lợi dụng các buổi thuyết giảng tại các nhà thờ để công khai tuyên truyền cho "người anh em bên kia".
Một số lãnh tụ đảng phái và tôn giáo như Phan Bá Cần (Hoà Hảo) Trần Quang Vinh (Cao Đài) Hạ Thế Ruyệt (Duy Dân) Thượng Toạ Pháp Tri và các ông Ngô Văn Ký, Nguyễn Văn Lục, Xuân Tùng (VNQDĐ) thành lập "Trận Tuyến Nhân dân Cách Mạng", phổ biến bản cáo trạng số 1 tố cáo Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng yêu cầu ông từ chức, và các phe liên hệ "chấm dứt chiến tranh giải quyết vấn đề miền Nam bằng phương thức hoà bình". Chủ tịch Thượng Nghị Viện Trần Văn Lắm lên án Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu "lạm quyền và tham nhũng". Ông Thiệu đã độc diễn thứ hai vào ghế Tổng Thống từ năm 1971, khi hết hạn lại ngồi thêm 5 năm nữa, cái danh "Tám Lì "được gắn cho ông từ đó.
Nhóm Sóng Thần thì tổ chức "ngày ký giả ăn mày" , rồi tiếp theo "Ngày công lý và báo chí thọ nạn" vào tháng 11-1974.
CSBV xé bỏ hiệp định Ba Lê từ ngày27-1-1973, đến cuối năm 1974, sau khi đã thoả thuận trao đổi tù binh với Mỹ đã xong. Mặt trận lớn đẩm máu mở ra tại vùng 1 Chiến thuật là quận Thượng Đức tỉnh Quảng Nam. Thượng Đức nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Nam trong thung lũng Hà Tân, một khu vực nghèo nàn khô cằn sỏi đá , về phía Tây là rừng núi trùng điệp chạy dài tới biên giới Lào.Thượng Đức là địa điểm chiến lược cách Đà Nẳng khoảng 60 cây số về phía Tây Nam, cách biên giới Lào-Việt 50 cây số. Con đường độc đạo vào quận dài hơn 5 cây số, đây là tiền đồn chiến lược bảo vệ căn cứ và phi trường Đà Nẳng, một trong những căn cứ lớn nhất của VNCH.
Địa hình Thượng Đức rất hiểm yếu, ba bề là núi cao, có nhiều dốc dựng đứng, phía Đông bằng phẳng là nơi hợp lưu của hai con sông Côn và sông Vu Gia nước sâu, chảy dài từ Tây sang Đông.
Trước kia Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ đã xây dựng và để lại một căn cứ phòng thủ chiến lược với hệ thống giao thông hào liên hoàn trong căn cứ cùng với 35 lô cốt nửa chìm nửa nổi, mỗi lô cốt rộng 4 mét, xây dựng bằng xi măng cốt thép bao bọc 2 lớp bao cát đặt ngay ở giữa, nhiều công sự có nấp và một hệ thống nhà hầm và hầm ngầm. Khu thông tin, chỉ huy pháo binh, bệnh viện, kho, đều nằm sâu trong lòng đất. Trong khu vực nhà ngầm được chia thành nhiều phòng.
Lực lượng VNCH ở Thượng Đức có 1 Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân biên phòng, 2 Đại Đội Địa Phương Quân, 1 Đại Đội Cảnh Sáng Dã Chiến, 1 Trung Đội Viễn Thám, và 16 Trung Đội Ngĩ Quân, tất cả đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Quốc Hùng Quận Trưởng.
Về mặt chiến lược, Thượng Đức còn là một vị trí quan trọng xuất phát các cuộc hành quân trinh sát, khống chế con đường tiếp liệu Trường Sơn Đông mà CSBV vừa mới khai dựng sau ngày ký hiệp định 27-1-1973. Từ phía Bắc quân dụng và chiến cụ theo đường mòn HCM đưa từ A Lưới đến A Shau qua Trào đến Bến Giàng nằm trên liên tỉnh lộ 4 , cách Thượng Đức không xa. Tại đây quân CSBV có những kho tồn trử quân dụng tiếp tế cho mặt trận quân khu 5.
Kể từ cuối năm 1973, các không ảnh chụp được cho thấy nhiều khúc đường Ban Mê Thuộc được CS sửa chửa hoặc chuyển quân. Trước khi đánh Thượng Đức, ngày 18-7-1974, CQ cho Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 đánh chiếm Nông Sơn, nơi Tiểu Đoàn 78 Biệt Động Quân trấn giữ. Cụm phòng thủ Nông Sơn "Trung Phước nằm hai bên bờ sông Tỉnh Yên cách quận lỵ Đại Lộc khoảng 16 cây số. Với sự tăng cường của 2 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 2 CQ và Tiểu Đoàn 10 đặc công , vào trưa 18-7 CQ đã tràn ngập căn cứ Nông Sơn.
Ngày 29-7-1974, CQ mở cuộc tấn công vào Đức Dục do Trung Đoàn 21 Biệt Động Quân trấn giữ và pháo vào phi trường Đà Nẳng, đồng thời cho Trung Đoàn 29 tấn công vào Chi khu Thượng Đức do Địa Phương Quân trấn giữ. Thông tin với chi khi mất liên lạc. Từ đồi 52 gần Đại Lộc, CQ đã pháo kích rất chính xác vào các vị trí phòng thủ của Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân, 2 tiền đồn Biệt Động Quân phía Tây bị mất liên lạc.
Sáng 30-7, Chi khu Phó Chi Khu Thượng Đức bị thương do pháo kích, Nhưng các cuộc tấn công của CQ đều bị đẩy lui, sau đó phi cơ quan sát của Không Quân nhìn thấy một đoàn xe của CQ đang di chuyển liên tỉnh lộ 4 ở phía Tây Thượng Đức, liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá huỷ được 3 chiến xa, của CQ và nhiều xe vận tải khác.
Tại Chi khu Thượng Đức, tổn thất của Biệt Động Quân và các đơn vị trú phòng ngày càng gia tăng, việc tải thương không thực hiện được do hoả lực phòng không ác liệt của CQ. Tướng Ngô Quang Trưởng điều động 1 Chi Đoàn chiến xa M-48 từ tân Mỹ phía Bắc Hải Vân vào Đà Nẳng làm trừ bị cho Tướng Hinh khi tình hình nghiêm trọng.
Ngày 1-8-1974, để giải toả áp lực địch, Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh đã thành lập một chiến đoàn đặc nhiệm gồm Trung đoàn 2 Bộ Binh và thiết đoàn 11 Kỵ Binh, từ Đại Lộc đi theo dọc tỉnh lộ 1 tiến về Thượng Đức.
Ngày 3-8-1974 Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 Bộ Binh bắt được 1 tù binh BV ở phía Đông Thường Đức, theo cung từ của tù binh này cho biết Trung Đoàn 29 CSBV đã chiếm giữ các cao điểm 1235 và 1062 để chế ngự tỉnh lộ 4 giữa thượmng Đức và đồi 52 ở phía tây Đại Lộc, c on đường tiếp liệu và tiếp viện cho Thượng Đức, trong khi Trung đoàn 66 của Sư Đoàn 304 CQ được tăng cường lực lượng chuẩn bị dứt điểm Thường Đức.
Sốt một ngày và đêm 6 tháng 8-1974 chiến đấu liên tục, Trung Đoàn 9 CSBV đã mở được cửa đột phá và đánh chiếm được một số lô cốt tuyến chiên hào thứ nhất, nhưng khi phát triển vào trung tâm, các mũi tiến công của CQ bị khựng lại trước hệ thống hoả lực dày đặc của binh sĩ VNCH. Tiểu đoàn 79 Biệt Động Quân cùng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân quyết không đầu hàng nân đã chiến đấu vô cùng ác liệt, đánh trả các cuộc xung phong của CSBV, đến người lính cuối cùng và viên đạn cuối cùng.
Trên trời máy bay A-37 của Không Quân VNCH liên tực bắn phá bổ nhào trúc bom đánh ngay vào khu vực hàng rào căn cứ, chi viện cho quân đồn trú ở Thường Đức giữ vững khu vực còn lại, những người lính mũ nâu anh hùng của Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân tiếp tục đẩy lui một đợt tấn công nữa vào đêm này. Đến 1 giờ ngày 7-8, CQ chuyển hướng tấn công Tiểu Đoàn 9 thành hướng chủ yếu, đến 5 giờ 30 phút ngày 7-8-1974, sau khi củnh cố lực lượng và bố trí lại đội hình, trung Đoàn 66 CQ mở đợt tấn công cuối cùng đanh chiếm quận lỵ Thượng Đức. Những người lính Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân còn sống sót rút vào lô cốt ngầm bắn ra như điên, chống cự quyết liệt.
Từ khi khởi đầu chiến dịch Thường Đức, liên tục trong 3 tháng chiến đấu ác liệt quanh khu vực đồi 1062, các đơn vị Nhảy Dù đã bị thiệt hại đến 50 phần trăm nhân số, với gần 500 chết và 2.000 bị thương. Sư Đoàn Nhảy Dù sử dụng luân phiên 7 Tiểu trong chiến dịch này và đến giữa tháng 11 có đến 6 Tiểu Đoàn hoạt động trong khu vực đồi 1063 . Bên phía CSBV, 3 Trung Đoàn (24-29-66) gần như bị xoá tên với 2.000 bộ đội chết và 5.000 bị thương. Cả hai bên đều kiệt sức sau một chiến dịch đẩm máu.
Kể từ ngày 11-11-1974, lực lượng Dù đã ngự trị trên toàn ngọn đồi 1062 ở phía ĐôngThường Đức và thành lập tuyến phòng thủ trên các triền núi quanh đồi này. CQ bị tiêu hao quá nhiều nên không dám trở lại tấn công nữa.
Từ đầu năm 1975, CQ đã chiếm Định Quán, nằm về phía Đông Bắc tỉnh Xuân Lộc. Xuân Lộc nằm cách Sài gòn khoảng 60 cây số và cách Phan Thiết 100 cây số. Phạm vi trách nhiệm của Sư Đoàn 18 Bộ Binh là mặt trận Long Khánh, kể cả việc chiếm lại Định Quán trên quốc lộ 20, bảo vệ an ninh dọc theo quốc lộ 1 giữa Xuân Lộc và Bình Tuy, phụ trách an ninh mặt Bắc Long Bình, quốc lộ 15 và căn cứ Không Quân Biên Hoà. Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh là Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo.
Địa hình Thượng Đức rất hiểm yếu, ba bề là núi cao, có nhiều dốc dựng đứng, phía Đông bằng phẳng là nơi hợp lưu của hai con sông Côn và sông Vu Gia nước sâu, chảy dài từ Tây sang Đông.
Trước kia Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ đã xây dựng và để lại một căn cứ phòng thủ chiến lược với hệ thống giao thông hào liên hoàn trong căn cứ cùng với 35 lô cốt nửa chìm nửa nổi, mỗi lô cốt rộng 4 mét, xây dựng bằng xi măng cốt thép bao bọc 2 lớp bao cát đặt ngay ở giữa, nhiều công sự có nấp và một hệ thống nhà hầm và hầm ngầm. Khu thông tin, chỉ huy pháo binh, bệnh viện, kho, đều nằm sâu trong lòng đất. Trong khu vực nhà ngầm được chia thành nhiều phòng.
Lực lượng VNCH ở Thượng Đức có 1 Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân biên phòng, 2 Đại Đội Địa Phương Quân, 1 Đại Đội Cảnh Sáng Dã Chiến, 1 Trung Đội Viễn Thám, và 16 Trung Đội Ngĩ Quân, tất cả đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Quốc Hùng Quận Trưởng.
Về mặt chiến lược, Thượng Đức còn là một vị trí quan trọng xuất phát các cuộc hành quân trinh sát, khống chế con đường tiếp liệu Trường Sơn Đông mà CSBV vừa mới khai dựng sau ngày ký hiệp định 27-1-1973. Từ phía Bắc quân dụng và chiến cụ theo đường mòn HCM đưa từ A Lưới đến A Shau qua Trào đến Bến Giàng nằm trên liên tỉnh lộ 4 , cách Thượng Đức không xa. Tại đây quân CSBV có những kho tồn trử quân dụng tiếp tế cho mặt trận quân khu 5.
Kể từ cuối năm 1973, các không ảnh chụp được cho thấy nhiều khúc đường Ban Mê Thuộc được CS sửa chửa hoặc chuyển quân. Trước khi đánh Thượng Đức, ngày 18-7-1974, CQ cho Trung Đoàn 36 của Sư Đoàn 308 đánh chiếm Nông Sơn, nơi Tiểu Đoàn 78 Biệt Động Quân trấn giữ. Cụm phòng thủ Nông Sơn "Trung Phước nằm hai bên bờ sông Tỉnh Yên cách quận lỵ Đại Lộc khoảng 16 cây số. Với sự tăng cường của 2 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 2 CQ và Tiểu Đoàn 10 đặc công , vào trưa 18-7 CQ đã tràn ngập căn cứ Nông Sơn.
Ngày 29-7-1974, CQ mở cuộc tấn công vào Đức Dục do Trung Đoàn 21 Biệt Động Quân trấn giữ và pháo vào phi trường Đà Nẳng, đồng thời cho Trung Đoàn 29 tấn công vào Chi khu Thượng Đức do Địa Phương Quân trấn giữ. Thông tin với chi khi mất liên lạc. Từ đồi 52 gần Đại Lộc, CQ đã pháo kích rất chính xác vào các vị trí phòng thủ của Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân, 2 tiền đồn Biệt Động Quân phía Tây bị mất liên lạc.
Sáng 30-7, Chi khu Phó Chi Khu Thượng Đức bị thương do pháo kích, Nhưng các cuộc tấn công của CQ đều bị đẩy lui, sau đó phi cơ quan sát của Không Quân nhìn thấy một đoàn xe của CQ đang di chuyển liên tỉnh lộ 4 ở phía Tây Thượng Đức, liền gọi phi cơ đến oanh tạc, phá huỷ được 3 chiến xa, của CQ và nhiều xe vận tải khác.
Tại Chi khu Thượng Đức, tổn thất của Biệt Động Quân và các đơn vị trú phòng ngày càng gia tăng, việc tải thương không thực hiện được do hoả lực phòng không ác liệt của CQ. Tướng Ngô Quang Trưởng điều động 1 Chi Đoàn chiến xa M-48 từ tân Mỹ phía Bắc Hải Vân vào Đà Nẳng làm trừ bị cho Tướng Hinh khi tình hình nghiêm trọng.
Ngày 1-8-1974, để giải toả áp lực địch, Tướng Nguyễn Duy Hinh Tư Lệnh Sư Đoàn 3 Bộ Binh đã thành lập một chiến đoàn đặc nhiệm gồm Trung đoàn 2 Bộ Binh và thiết đoàn 11 Kỵ Binh, từ Đại Lộc đi theo dọc tỉnh lộ 1 tiến về Thượng Đức.
Ngày 3-8-1974 Tiểu Đoàn 2 thuộc Trung Đoàn 2 Bộ Binh bắt được 1 tù binh BV ở phía Đông Thường Đức, theo cung từ của tù binh này cho biết Trung Đoàn 29 CSBV đã chiếm giữ các cao điểm 1235 và 1062 để chế ngự tỉnh lộ 4 giữa thượmng Đức và đồi 52 ở phía tây Đại Lộc, c on đường tiếp liệu và tiếp viện cho Thượng Đức, trong khi Trung đoàn 66 của Sư Đoàn 304 CQ được tăng cường lực lượng chuẩn bị dứt điểm Thường Đức.
Sốt một ngày và đêm 6 tháng 8-1974 chiến đấu liên tục, Trung Đoàn 9 CSBV đã mở được cửa đột phá và đánh chiếm được một số lô cốt tuyến chiên hào thứ nhất, nhưng khi phát triển vào trung tâm, các mũi tiến công của CQ bị khựng lại trước hệ thống hoả lực dày đặc của binh sĩ VNCH. Tiểu đoàn 79 Biệt Động Quân cùng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân quyết không đầu hàng nân đã chiến đấu vô cùng ác liệt, đánh trả các cuộc xung phong của CSBV, đến người lính cuối cùng và viên đạn cuối cùng.
Trên trời máy bay A-37 của Không Quân VNCH liên tực bắn phá bổ nhào trúc bom đánh ngay vào khu vực hàng rào căn cứ, chi viện cho quân đồn trú ở Thường Đức giữ vững khu vực còn lại, những người lính mũ nâu anh hùng của Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân tiếp tục đẩy lui một đợt tấn công nữa vào đêm này. Đến 1 giờ ngày 7-8, CQ chuyển hướng tấn công Tiểu Đoàn 9 thành hướng chủ yếu, đến 5 giờ 30 phút ngày 7-8-1974, sau khi củnh cố lực lượng và bố trí lại đội hình, trung Đoàn 66 CQ mở đợt tấn công cuối cùng đanh chiếm quận lỵ Thượng Đức. Những người lính Biệt Động Quân, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân còn sống sót rút vào lô cốt ngầm bắn ra như điên, chống cự quyết liệt.
Từ khi khởi đầu chiến dịch Thường Đức, liên tục trong 3 tháng chiến đấu ác liệt quanh khu vực đồi 1062, các đơn vị Nhảy Dù đã bị thiệt hại đến 50 phần trăm nhân số, với gần 500 chết và 2.000 bị thương. Sư Đoàn Nhảy Dù sử dụng luân phiên 7 Tiểu trong chiến dịch này và đến giữa tháng 11 có đến 6 Tiểu Đoàn hoạt động trong khu vực đồi 1063 . Bên phía CSBV, 3 Trung Đoàn (24-29-66) gần như bị xoá tên với 2.000 bộ đội chết và 5.000 bị thương. Cả hai bên đều kiệt sức sau một chiến dịch đẩm máu.
Kể từ ngày 11-11-1974, lực lượng Dù đã ngự trị trên toàn ngọn đồi 1062 ở phía ĐôngThường Đức và thành lập tuyến phòng thủ trên các triền núi quanh đồi này. CQ bị tiêu hao quá nhiều nên không dám trở lại tấn công nữa.
Từ đầu năm 1975, CQ đã chiếm Định Quán, nằm về phía Đông Bắc tỉnh Xuân Lộc. Xuân Lộc nằm cách Sài gòn khoảng 60 cây số và cách Phan Thiết 100 cây số. Phạm vi trách nhiệm của Sư Đoàn 18 Bộ Binh là mặt trận Long Khánh, kể cả việc chiếm lại Định Quán trên quốc lộ 20, bảo vệ an ninh dọc theo quốc lộ 1 giữa Xuân Lộc và Bình Tuy, phụ trách an ninh mặt Bắc Long Bình, quốc lộ 15 và căn cứ Không Quân Biên Hoà. Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh là Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo.
Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016
Nghiệp Duyên- Một Thời Chinh Chiến
Bút ký: Nghiệp Duyên
Một thời Chinh Chiến
Tác giả: Thanh Hiền-Dị Nhơn
Bell thành phố sương mù 2016
Một thời Chinh Chiến
Tác giả: Thanh Hiền-Dị Nhơn
Bell thành phố sương mù 2016
Một Thời Chinh Chiến
An Lộc thành biển máu
Bình Long núi bằng xương
Hai tháng dài tử thủ
Xác phơi ngập chiến trường !
Tháng tư lại về trong nỗi đau khoắc khoải, với những gì của Sàigòn trong những ngày cuối cùng vẫn cứ ám ảnh tôi, cảnh hoảng loạn, cảnh ly tan như nhắc nhở tôi câu nói của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu như một câu danh ngôn "đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà hãy nhìn kỷ những gì Cộng Sản làm" .
Nhân ngày 20 tháng tư năm 2016, tôi xin thắp nén tâm hương tưởng niệm các Tướng lãnh đã tuẫn tiết trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, cùng các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Lịch sử và những người dân Việt luôn ghi nhớ gương anh dũng của những người hùng của "Một Thời Chinh Chiến, sinh vi tướng, tử vi thần" oanh liệt, can cường, khí tiết và bất khuất.
Nhân ngày 20 tháng tư năm 2016, tôi xin thắp nén tâm hương tưởng niệm các Tướng lãnh đã tuẫn tiết trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, cùng các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Lịch sử và những người dân Việt luôn ghi nhớ gương anh dũng của những người hùng của "Một Thời Chinh Chiến, sinh vi tướng, tử vi thần" oanh liệt, can cường, khí tiết và bất khuất.
Sáng nay, nhìn qua khung cửa, nhìn những khóm hoa Đỗ Quyên nở rộ rực rở dưới bóng cổ thụ, tôi chạnh nhớ tiếng chim Quốc, cũng được gọi là chim Đỗ Quyên đang thảm thiết gọi bạn, mà tôi thường nghe từ buội tre tàu sau nhà, như hồn vua Thục Đế oán than nghe ai oán bi thương . Quốc kêu ngày, kêu đêm rồi mỏi mòn rũ chết. Và tôi chạnh nhớ đến anh, người hùng không gian Phạm Phú Quốc . Định Mệnh đã gắn liền tên anh với đất nước và bài hát Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc, cái âm vang nghe như đâu đây ôi xót đau ray rức...
Anh Quốc ơi...từ nay trong gió ra khơi...
Anh Quốc ơi... từ nay trên áng mây trôi...
có hồn anh trong cõi lòng tôi...
Mới đó mà đã hơn 40 năm , ngày Quốc Hận 30 tháng 4 lại đến, người bên kia thì ăn mừng chiến thắng, người lưu vong bên này lại tổ chức ngày Quốc Hận, một ngày tang thương của hàng triệu người dân trong nước và người Việt lưu vong, cũng là ngày đen tối đã khiến ra bao thảm cảnh: tù cải tạo, kinh tế mới, vượt biên... Như một vết thương đau đớn nhất của dân tộc, ngày mà người ta gọi nó bằng nhiều cái tên, ngày mà Cộng Sản Việt Nam gọi là giải phóng, nhưng đã giải phóng cho ai? hay là giải phóng chính cho các anh không phải sống trong nghèo đói nữa thì đúng hơn. Cuộc chiến tương tàn thảm khốc ấy, người ngoài làm sao hiểu được tâm trạng của người trong cuộc, họ chỉ cảm thương vài giây rồi quên lãng, nhưng tôi những người lưu vong, từng giờ, từng phút mãi mãi không quên những năm phải sống hải hùng trong cảnh đạn bom , và mất mát người thân yêu.
Tôi sanh ra vào năm đói Ất Dậu, và lớn lên trong 2 cuộc chiến, Việt-Pháp , tôi không có ấn tượng nhiều về quân đội thời đó, nhưng tôi biết rõ là mình vừa đi học vừa di tản, báo chí thì dân quê làm sao có mà đọc, nên cảnh chiến trường xảy ra tôi không được thấy cảnh chết chóc và pháo kích, và miền Nam không bị bom đạn tàn phá khủng khiếp như cuộc chiến Việt Mỹ. Một phần do vũ khí quá tối tân của 2 cường quốc, Hoa Kỳ và Trung Cộng. Thời đại bây giờ thì chúng ta chỉ vào youtube là có thể thấy rõ hình ảnh tin tức khắp thế giới, Cộng Sản không thể bưng bít những tội ác tàn độc kia.Trong bầu trời này không có gì mãi che dấu được, và luật nhân quả tuần hoàn, không có gì tồn tại mãi được.
Trong thời kỳ chiến tranh Việt- Pháp, kháng chiến quân được gọi là "Việt Minh" , cái tên nghe đã ớn lạnh rùng mình nổi da gà. Cảnh đấu tố, chôn người rồi cày lên, tàn ác dã man không sao kể xiết. Tôi có người chị đi theo Việt Minh kháng chiến chết lúc 17 tuổi mẹ tôi không nhìn xác và cậu tôi (Cha) phải liên luỵ ngồi tù, bà ghét Việt Minh từ đó. Đến thời Việt Cộng bà ghét lây luôn, cấm các con không được theo, có lẽ bà đã nhìn thấy rõ bộ mặt tàn ác của Việt Cộng, khi họ giết ông Ba Hà vì không đóng thuế, đập chết chồng chị Quận con bác Năm Nhi vì anh quá đau lòng khi thấy 2 đứa con chú Mười Hoàng chết thiêu trong căn nhà vào Tết Mậu Thân, anh đau xót thốt lên một câu "giải phóng đâu không thấy chỉ thấy chết người dân".
Các dì tôi đều có con đi Việt Cộng, các dì được tuyên dương là "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Còn mẹ tôi có con tử trận bên Quốc Gia nên không được tuyên dương. Bà nói một câu với các anh tôi làm tôi nhớ suốt đời "Chẳng thà tụi con đi bên Quốc Gia, có chết thì má chôn, và má rất hãnh diện ". Và tôi nhớ lại vì sao bà không nhận xác người con đi theo Việt Minh. Bà thương lính nên tôi làm em gái hậu phương nấu cho lính ăn. Nhà tôi đối diện chùa Long Cốc ngay quốc lộ vào tỉnh, đường mà tân binh của Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp đi ngang để lên xạ trường núi Dinh tập trận.
Đến thời chiến tranh Việt- Mỹ, thì quân giải phóng được gọi là "Việt- Cộng", cái tên nghe càng khủng khiếp hơn cái tên "Việt Minh " vì nó tắm bằng máu của người dân. Những xóm làng thân yêu mộc mạc không ai biết đến, sau cuộc tàn sát đẳm máu, bỗng trở thành những địa danh nổi tiếng, cả thế giới đều biết.
Nguyễn Đình Bảo- người ở lại Chalie
Tôi sanh ra vào năm đói Ất Dậu, và lớn lên trong 2 cuộc chiến, Việt-Pháp , tôi không có ấn tượng nhiều về quân đội thời đó, nhưng tôi biết rõ là mình vừa đi học vừa di tản, báo chí thì dân quê làm sao có mà đọc, nên cảnh chiến trường xảy ra tôi không được thấy cảnh chết chóc và pháo kích, và miền Nam không bị bom đạn tàn phá khủng khiếp như cuộc chiến Việt Mỹ. Một phần do vũ khí quá tối tân của 2 cường quốc, Hoa Kỳ và Trung Cộng. Thời đại bây giờ thì chúng ta chỉ vào youtube là có thể thấy rõ hình ảnh tin tức khắp thế giới, Cộng Sản không thể bưng bít những tội ác tàn độc kia.Trong bầu trời này không có gì mãi che dấu được, và luật nhân quả tuần hoàn, không có gì tồn tại mãi được.
Trong thời kỳ chiến tranh Việt- Pháp, kháng chiến quân được gọi là "Việt Minh" , cái tên nghe đã ớn lạnh rùng mình nổi da gà. Cảnh đấu tố, chôn người rồi cày lên, tàn ác dã man không sao kể xiết. Tôi có người chị đi theo Việt Minh kháng chiến chết lúc 17 tuổi mẹ tôi không nhìn xác và cậu tôi (Cha) phải liên luỵ ngồi tù, bà ghét Việt Minh từ đó. Đến thời Việt Cộng bà ghét lây luôn, cấm các con không được theo, có lẽ bà đã nhìn thấy rõ bộ mặt tàn ác của Việt Cộng, khi họ giết ông Ba Hà vì không đóng thuế, đập chết chồng chị Quận con bác Năm Nhi vì anh quá đau lòng khi thấy 2 đứa con chú Mười Hoàng chết thiêu trong căn nhà vào Tết Mậu Thân, anh đau xót thốt lên một câu "giải phóng đâu không thấy chỉ thấy chết người dân".
Các dì tôi đều có con đi Việt Cộng, các dì được tuyên dương là "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Còn mẹ tôi có con tử trận bên Quốc Gia nên không được tuyên dương. Bà nói một câu với các anh tôi làm tôi nhớ suốt đời "Chẳng thà tụi con đi bên Quốc Gia, có chết thì má chôn, và má rất hãnh diện ". Và tôi nhớ lại vì sao bà không nhận xác người con đi theo Việt Minh. Bà thương lính nên tôi làm em gái hậu phương nấu cho lính ăn. Nhà tôi đối diện chùa Long Cốc ngay quốc lộ vào tỉnh, đường mà tân binh của Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp đi ngang để lên xạ trường núi Dinh tập trận.
Đến thời chiến tranh Việt- Mỹ, thì quân giải phóng được gọi là "Việt- Cộng", cái tên nghe càng khủng khiếp hơn cái tên "Việt Minh " vì nó tắm bằng máu của người dân. Những xóm làng thân yêu mộc mạc không ai biết đến, sau cuộc tàn sát đẳm máu, bỗng trở thành những địa danh nổi tiếng, cả thế giới đều biết.
Pháo thủ Nguyễn Văn Đương
Trận Hạ Lào chiến binh không trở lại
Nguyễn Văn Đương chẳng tìm thấy hình hài
Tấm poncho anh che mưa che gió
Bỗng biến thành tấm da ngựa bọc thây!
Bài hát "anh không chết đâu anh" do Trần Thiện Thanh sáng tác, từng lời, từng chữ đã làm con tim người nghe rướm máu. "anh không chết đâu anh ... người anh hùng mũ đỏ tên Đương". Trận Hạ Lào người pháo thủ Nguyễn Văn Đương không trở lại. mà đã hơn 40 năm qua người vợ cũng chưa bao giờ tìm được xác chồng . Người phụ nữ trong thời loạn biết bao là gian truân, nhục nhằn, bao tang thương phải gánh chịu trên đôi vai nhỏ bé, phải mòn chân nuôi dạy đàn con đã sớm mồ côi cha.
Khi phải đi Thanh Nữ Cộng Hoà lúc mới 16, và trận chiến Bình Giã đã cho tôi nhìn thấy tội ác của chiến tranh. Và tôi cũng có người anh tử trận năm 1965, để lại người vợ mới hứa hôn khi mới tuổi đôi mươi.
Tôi cũng có người anh chết trận
Thân nam nhi chưa thoả chí tang bồng
Anh về đất khi đời đầy sức sống
Còn thơ ngây goá phụ để tang chồng !
Tôi yêu người lính Dù đó khi Tiểu Đoàn 3 Dù dừng quân tại nhà má tôi sau khi giải vây Bình Giả. Và từ đó tôi yêu binh chủng Nhảy Dù, và tôi nhìn người lính Cộng Hoà, có cái gì rất hấp dẫn, hào hùng và khí phách. Nhưng anh đã không về mà nằm lại trên chiến trường Tây Ninh vào năm 1968.
Đã không về anh nằm lại Tây Ninh
Gót giầy saul chưa phai mầu đất đỏ
Túi cứu thương, áo trận vướng bãi mìn !
Mãnh khăn sô cho Huế cũng là mãnh khăn sô cho chính tôi, mà , thảm cảnh Tết Mậu Thân, đã khiến cả nước và thế giới rúng động. Huế tang thương, người dân điêu linh trong giờ phút thiêng liêng của năm mới. Huế đô tắm mình trong biển máu.
Biển máu tắm Huế đô
Núi Ngự xương chất chồng
Đông Ba buồn tang tóc
Huế trắng mầu khăn sô !
Máu nhuộm lên xứ Huế
Loang loáng đọng dòng Hương
Những ngôi mộ tập thể
Người chết khắp nẻo đường !
Huế trắng mầu khăn sô !
Trận Mậu Thân 1968 tại Huế kéo dài 26 ngày, hàng chục ngôi mộ tập thể phát hiện xung quanh Huế. Nạn nhân bao gồm phụ nữ, nam giới, trẻ em và trẻ sơ sinh. Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên có 22 địa điểm tìm được các mồ tập thể, có tới hàng ngàn xác, hoặc vài ba trăm và có xác bị chôn còn bị xiềng xích.
Ngày 25/2/1968, chiến cuộc chấm dứt tại Huế với đổ nát, điêu tàn, nhà cửa, cầu cống, cây cối, đường xa gần như tử địa với xác người nằm la liệt sình thối.
Những hình ảnh đau lòng của chiến tranh, những đau khổ trên gương mặt bà mẹ trên tay ôm xác, những bà mẹ tay xách nách mang mà bao quanh khói lửa mù mịt. Cảnh tàn phá của đạn bom, máu chảy thây phơi, có làm động tâm của kẻ khát máu gây ra chiến tranh khốc liệt này không?
Máu nhuộm lên xứ Huế
Loang loáng đọng dòng Hương
Những ngôi mộ tập thể
Người chết khắp nẻo đường !
Nguyễn Đình Bảo- người ở lại Chalie
Tiếp tục đến trận Khe Sanh mà máu đã nhuộm thành Khe Đỏ, mà Chalie Người lính Mũ đỏ Nguyễn Đình Bảo đã không về, áo poncho thay tấm da ngựa bọc thây.
Nguyễn Đình Bảo, Chalie anh nằm lại
Giữa núi rừng chiến trận của Tây Nguyên
Đồi núi thẳm tắm mình trong bão lửa
Bom đạn rợp trời đất lệch trời nghiêng!
Người Tiểu đoàn tưởng Tiểu Đoàn " Song Kiếm Trấn Ải", vĩnh viễn nằm lại ngọn đồi Charlie.Ngọn đồi vô danh trở thành đồi Charlie được mọi người biết đến và bản nhạc "Người Ở Lại Charlie" được Trần Thiện Thanh phổ nhạc, để tưởng niệm cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, nằm lại Charlie không có một nấm mồ!
Ánh lửa hoả châu lung linh trong đêm tối
Như hồn anh lơ lững giữa không trung
Trong tiếng pháo cánh dù trên đồi máu
Chợt vỡ tan rung động cả núi rừng!
Tiếng đạn hú vang rền thay tiếng thét
Cùng xung phong liều chết chẳng quy hàng
Những vết thương máu thắm qua áo lính
Vùng đất bé nhỏ, gồm chỉ có 76.000 ngàn dân, diện tích có 2.2 40 km2 mà phải hứng đủ mọi thứ đạn, và trong vòng 2 tháng phải chịu đựng hơn 200.000 quả đạn đủ loại , hậu quả đã để lại cho An Lộc một cảnh điêu tàn, chết chóc, máu tràn như biển, mà núi chất thành xương, Đồi Gió đổi lại là đồi Quốc Tuấn, khi người lính truyền tin anh dũng nằm lại.
Trên Đồi Gió mang tên Quốc Tuấn
Lính truyền tin anh dũng can cường
Chết oai hùng với số tuổi hai mươi ba
Anh nằm lại chiến trường đổ nát hôm qua
Nghìn... nghìn đạn pháo rót vào An Lộc, và 2 câu thơ của cô gái An Lộc đã khiến cho mọi người cảm thương và ngưỡng mộ, kính phục sự hy sinh của những Biệt Kích Dù.
An Lộc địa sử lưu chiến tích
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân
Những chiến sĩ anh hùng Biệt Kích đã giữ vững An Lộc, rất nhiều chiến sĩ đã hy sinh. Tướng Lê Văn Hưng được xưng tụng là "anh hùng An Lộc". Trong khi ấy, với Cán binh Cộng Sản Bắc Việt, An Lộc là chiến trường đi không hẹn ngày về, cả 100 ngàn vong linh của những người "Sinh Bắc Tử Nam", đã trở thành lũ âm binh lạc loài vất vưởng mà gia đình họ không bao giờ biết được.
Tôi đã thấy đạn bom cày thôn xóm
Vết đạn thù trên thi thể anh tôi
Em chết cháy làm mồi cho ngọn lửa
Đạn vô tình em làm trẻ mồ côi!
Tôi đã từng nằm trong đạn pháo Tết MậuThân 1968, rồi dưới làn mưa pháo vào Đà Nẳng năm 1972 khi QuảngTrị thất thủ, mới biết nó khủng khiếp đến thế nào. Miền Nam không có tham vọng tiến chiếm miền Bắc, mà chính CSBV mang tham vọng đem quân đánh chiếm miền Nam.
Người dân thì chết thảm, trẻ em càng bất hạnh hơn, tật nguyền vì bom đạn, mồ côi vì mất mẹ cha, goá phụ nhiều vô số. Hình ảnh em bé chạy trần truồng trên Đại Lộ Kinh Hoàng 1972. Ngày 4 tháng 4 - 1975 một máy bay C-130 chở trẻ em mồ côi vừa ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất bị đạn phòng không bắn rơi ngay ở Hóc Môn ngoài vòng đai phi trường.
30 tháng 4 năm 1975, Tướng Dương Văn Minh, người hùng Rừng Sác, trở thành "hàng tướng ", người lính Việt Nam Cộng Hoà bị ép phải buông súng.
30 tháng 4 năm 1975, Tướng Dương Văn Minh, người hùng Rừng Sác, trở thành "hàng tướng ", người lính Việt Nam Cộng Hoà bị ép phải buông súng.
Sàigòn còn lại bơ vơ
Từng vùng gục xuống hết chờ hồi sinh
Nghẹn ngào nghe lệnh tướng Minh
Đầu hàng, buông súng nạp mình trói tay ...
Sàigòn mất , Sài gòn không có ngày đoàn viên, mà Sàigòn trong hoảng loạn, chia ly. Người ra đi trong nước mắt, kẻ ở lại bị đoạ đày. Mà Định Mệnh đã an bày cho số phận của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà .
Tháng tư lại về tháng tư mất nước
Quân đội tan hàng người Việt lưu vong
Anh tuẫn tiết để chúng tôi được sống
Quên tình nhà trọn tiết với non sông !
![]() |
| Add caption |
Tướng Nguyễn Khoa Nam (1927-1975)
Tướng Nguyễn Khoa Nam,Tư Lệnh Quân Đoàn 4, tuẫn tiết lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Nguyễn Khoa Nam - Lê Văn Hưng tuẫn tiết
Mà nghìn sau Tổ Quốc mãi ghi ơn
Tướng Lê Văn Hưng (1933-1975)
(người hùng An Lộc)
Tướng Lê Văn Hưng- Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4, tuẫn tiết bằng sung lục vào lúc 8 giờ 45 phút tối, ngày 30-4-1975.
Tướng Lê Nguyên Vỹ ( 1933-1975)
Tướng Lê Nguyên Vỹ-Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Sau khi nhận lệnh đầu hàng, tuẫn tiết bằng súng lục vào lúc 11 giờ ngày 30-4-1875 tại Tổng Hành Dinh Lai Khê.
Lê Nguyên Vỹ- Trần Văn Hai tuẫn tiết
Khí phách anh hùng cái chết liệt oanh
Tướng Trần Văn Hai (1925-1975)
Tướng Trần Văn Hai - Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, tuẫn tiết tại Trung tâm Đồng Tâm đêm 30-4-1975.
Tướng Phạm Văn Phú (1928-1975)
Tướng Phạm Văn Phú -Tư Lênh quân Đoàn 2, tuẫn tiết bằng cách uống liều thuốc cực mạnh, mất ngày 30-4-1975.
Tướng Phạm Văn Phú liều mình tuẫn tiết
Làm trai, sinh vi tướng, tử vi thần
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1939-1975)
(hùm thiêng U Minh)
Gương anh dũng không đầu hành buông súng
Chết vinh quang trong tay của Cộng thù
Hổ Ngọc Cẩn nghìn sau còn ghi nhớ
Hùm thiêng U Minh yên nghĩ nghìn thu !
Gia đình Đại Tá Đặng Sĩ Vinh cùng vợ và 7 đứa con tuẫn tiết bằng súng lục ngày 30-4-1975.
Chồng và vợ bảy đứa con cùng tuẫn tiết
Phát súng ân tình Đại Tá Đặng Sĩ Vinh
Dưới chân tượng đài Thuỷ Quân Lục chiến
Nguyễn Văn Long tuẫn tiết chết một mình !
(hùm thiêng U Minh)
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng không chịu đầu hàng, bị Cộng Sản xử bắn tại chỗ.
Gương anh dũng không đầu hành buông súng
Chết vinh quang trong tay của Cộng thù
Hổ Ngọc Cẩn nghìn sau còn ghi nhớ
Hùm thiêng U Minh yên nghĩ nghìn thu !
Gia đình Đại Tá Đặng Sĩ Vinh cùng vợ và 7 đứa con tuẫn tiết bằng súng lục ngày 30-4-1975.
Chồng và vợ bảy đứa con cùng tuẫn tiết
Phát súng ân tình Đại Tá Đặng Sĩ Vinh
Dưới chân tượng đài Thuỷ Quân Lục chiến
Nguyễn Văn Long tuẫn tiết chết một mình !
Trung Tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long, tuẫn tiết dưới chân tượng đài Thuỷ Quân Lục Chiến vào ngày 30-4-1975.
Và rất nhiều người chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã tuẫn tiết. Câu chuyện bi hùng của người lính Không Quân vô danh, anh hùng Không gian của Thần Long 427- C-7 A Caribou.
Lệnh đầu hàng anh đành buông súng
Tức tưởi tan hàng phẩn hận hờn căm
Trại cải tạo anh đi không trở lại
Đất Bắc xa xôi anh chết ầm thầm!
Cả miền Nam đắm chìm trong biển máu
Giải phóng về gây chết chóc lầm than
Từ một chiến binh thành tù cải tạo
Tháng tư về lịch sữ đã sang trang !
Sàigòn điêu tàn miền Nam bức tử
Người lính bàng hoàng súng trận hoang mang
Chiếc giầy saul áo trận nằm lăng lóc
Goá phụ buồn đau xót mãnh khăn tang!
Bài thơ, bài viết này xin tưởng niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tổ Quốc ghi ơn các anh, và những người Việt Quốc Gia nói chung và tác giả nói riêng,mãi mãi không quên những người lính đã cống hiến sức lực, tánh mệnh và cả tuổi trẻ cho non sông. Những tấm gương anh hùng, oanh liệt, can cường và khí tiết, những chiến sĩ vô danh của Một Thời Chinh Chiến bi hùng. Một vành tang cho Quê Hương Việt Nam, cho các anh hùng của tất cả binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà !
Ngày Quốc Hận - Bell thành phố sương mù 2016
Thứ Ba, 5 tháng 4, 2016
Nghiệp Duyên- Biển Và Tôi
Bút ký: Nghiệp Duyên
Biển Và Tôi
Tác Giả: Thanh Hiền- Dị Nhơn
Bell thành phố sương mù 2016
Biển Và Tôi
Tác Giả: Thanh Hiền- Dị Nhơn
Bell thành phố sương mù 2016
Biển Và Tôi
Tôi thấy tôi trong biển
Biển thấy biển trong tôi
Sóng mãi đi tìm biển
Tìm thôi suốt cả đời...
Sau mấy ngày biển động, biển Cocoa hôm nay có vẽ bình yên, nhưng sóng vẫn từng đợt dâng cao, rồi ập xuống cuốn theo những chàng trai lướt sóng, họ cứ ngả xuống rồi lại đứng lên tiếp tục lướt, nhìn cảnh ấy tôi chạnh nghĩ về mình, tôi đã ngả bao lần rồi lại gượng đứng lên, cái ngả sau lại đau hơn cái ngả trước, và tôi lại tiếp tục, cứ thế cho hết cuộc đời, mà mình đã học được gì? mình có đủ nhẫn nhục như những chàng trai lướt sóng đó, vẫng gang lì thách đố với biển cả.
Quanh tôi trời xanh mây trắng, biển bao la, gió, cát tất cả như dao động, tôi cảm nhận được âm thanh hoà trong tiếng sóng biển, chợt tôi thấy biển trong tôi và tôi cũng như ngọn sóng kia, cứ mãi đi tìm biển mà không biết mình đang trong biển. Tôi như gã cùng tử lang bạt giang hồ, đi nhiều chùa, Tu Viện , nhưng chưa tìm được cho mình một nơi để dừng chân. Nhìn lại đoạn đường mình đã đi qua, tôi không nghĩ mình có đủ sức chịu đựng những giông bão đã tàn phá tan nát hết những gì mình xây dựng, và tôi cũng như con dã tràng kia, lại tiếp tục xây lại lâu đài cát.
Biển đã cho tôi một khái niệm về cuộc sống, phải có lúc thịnh, lúc suy, có âm dương, có ngày thì phải có đêm, có mưa thì có nắng, cái gì thịnh quá thì bị tàn phá bớt đi cho cân bằng với trời đất. Con người cùng vạn vật tất cả đều vô thường, cũng như hạt cát với chân tôi đang tương tác lẫn nhau để sinh ra và huỷ diệt. Nhìn biển tôi tự hỏi. Nước biển từ đâu đến ? rồi nước trôi về đâu?Tại sao nước biển lại mặn? Cũng như nước mắt tại sao lại có vị mặn của biển. Có ai hiểu hết những lời của biển muốn nói, tiếng sóng biển rì rào như lời than thở của những oan hồn lạnh lẽo dưới đáy biển sâu, những thuỷ thủ của trận chiến Hoàng Sa 1974, của thuyền nhân vượt biển tìm tự do sau năm 75 .Dưới đáy biển kia là cả một bí mật chưa được khám phá, biển có lúc hiền lành ưu đãi cho những ngư dân, ban phát cho kho tàng vô tận, đôi khi lại phẫn nộ cướp đi sinh mạng con người, như trừng phạt con người đã tàn phá thiên nhiên vì lòng tham không đáy.
Trời hôm nay xanh hơn, mây vẫn trắng bay lãng đãng... Tai tôi nghe như tiếng sóng biển Nha Trang vọng về từ quá khứ, tôi chạnh nhớ những chàng thuỷ thủ, trong đó có anh, một người hàng xóm thân quen, và đặt biệt hơn qua anh, tôi có duyên được kết bạn với Thiếu Tá Nguyễn Minh Thơ, người của hải đảo, và qua anh Nguyễn Minh Thơ tôi có duyên hạnh ngộ nữ tài tử Khánh Ngọc đã một thời vang bóng. Tôi chạnh nhớ đến trường Huấn Luyện Hải Quân với những chàng lính thuỷ mặc quân phục trắng, người thuỷ thủ đa tình nhưng không kém oai phong.
4 chiến hạm của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đã tham dự trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ lãnh thổ vào năm 1974.
Chiến hạm HQ-10- Nhật Tảo, trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận. Chiến hạm HQ-16 bị hư hại nặng , nghiêng 15 độ. Chiến hạm HQ- 15 và HQ-4- Trần Khánh Dư bị hư nhẹ.
Gần 50 thuỷ thủ và Hạm trưởng Nguỵ Văn Thà của HQ-10 tử vong. Ngoài ra HQ-5 Trần Bình Trọng có 3 thuỷ thủ tử vong và 16 bị thương.
Hạm Trưởng Nguỵ Văn Thà và con tàu HQ-10 Nhật Tảo nằm lại biển khơi trong hải chiến Hoàng Sa.Ông đã hy sinh cùng đồng đội đền nợ nước, tiếp nối truyền thống hào hùng của Trần Bình Trọng , Trần Quốc Tuấn.
Sự hy sinh của Hạm trưởng Nguỵ Văn Thà cùng đồng đội trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974, là một thiên hùng ca bất tử mãi mãi vang vọng như nhạc hồn đất nước trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam (trích đăng của sử gia Trần Gia Phụng).
Biển và tôi gắn liền nhau từ lúc ấu thơ, khi di tản đến Hoa Kỳ tôi lại gắn bó với xứ biển Florida từ năm 1977. Florida cũng là nơi có 2 căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ lớn nhất trên Đại Tây Dương. Sỡ hữu bờ biển dài nhất nước Mỹ . Biển Daytona nổi tiếng với hội đoàn Harley Davision, Cocoa với căn cứ phi thuyền không gian, biển Miami, Key West, Clearwater, West Palm, St Persburg, Tampa... và hải đảo Captival, và Sanibel nổi tiếng với nhiều võ ốc phong phú và hải sản.
Chú rủ xuống tắm nhưng tôi lại từ chối, cho đến khi chú mướn phòng nghĩ, lúc ấy thì tôi mới hiểu ra, chú đã để ý đến tôi mà tôi không biết. Chú nào biết lòng tôi đang nổi sóng như ngọn sóng ngoài kia, và tôi đang chết đuối, đang dập dềnh trên ngọn sóng ấy, mà ai là người sẽ đưa tay vớt tôi lên, cái người đó không phải là chú rồi. Dù chú là người có danh vọng, nhưng tôi không ham những thứ đó, Tình Yêu là dâng hiến chứ không là gượng ép, mà sau đó lại sanh thêm hận oán. Biết tôi không bằng lòng nên chú không dám tiến tới nữa.
Quanh tôi trời xanh mây trắng, biển bao la, gió, cát tất cả như dao động, tôi cảm nhận được âm thanh hoà trong tiếng sóng biển, chợt tôi thấy biển trong tôi và tôi cũng như ngọn sóng kia, cứ mãi đi tìm biển mà không biết mình đang trong biển. Tôi như gã cùng tử lang bạt giang hồ, đi nhiều chùa, Tu Viện , nhưng chưa tìm được cho mình một nơi để dừng chân. Nhìn lại đoạn đường mình đã đi qua, tôi không nghĩ mình có đủ sức chịu đựng những giông bão đã tàn phá tan nát hết những gì mình xây dựng, và tôi cũng như con dã tràng kia, lại tiếp tục xây lại lâu đài cát.
Biển đã cho tôi một khái niệm về cuộc sống, phải có lúc thịnh, lúc suy, có âm dương, có ngày thì phải có đêm, có mưa thì có nắng, cái gì thịnh quá thì bị tàn phá bớt đi cho cân bằng với trời đất. Con người cùng vạn vật tất cả đều vô thường, cũng như hạt cát với chân tôi đang tương tác lẫn nhau để sinh ra và huỷ diệt. Nhìn biển tôi tự hỏi. Nước biển từ đâu đến ? rồi nước trôi về đâu?Tại sao nước biển lại mặn? Cũng như nước mắt tại sao lại có vị mặn của biển. Có ai hiểu hết những lời của biển muốn nói, tiếng sóng biển rì rào như lời than thở của những oan hồn lạnh lẽo dưới đáy biển sâu, những thuỷ thủ của trận chiến Hoàng Sa 1974, của thuyền nhân vượt biển tìm tự do sau năm 75 .Dưới đáy biển kia là cả một bí mật chưa được khám phá, biển có lúc hiền lành ưu đãi cho những ngư dân, ban phát cho kho tàng vô tận, đôi khi lại phẫn nộ cướp đi sinh mạng con người, như trừng phạt con người đã tàn phá thiên nhiên vì lòng tham không đáy.
Trời hôm nay xanh hơn, mây vẫn trắng bay lãng đãng... Tai tôi nghe như tiếng sóng biển Nha Trang vọng về từ quá khứ, tôi chạnh nhớ những chàng thuỷ thủ, trong đó có anh, một người hàng xóm thân quen, và đặt biệt hơn qua anh, tôi có duyên được kết bạn với Thiếu Tá Nguyễn Minh Thơ, người của hải đảo, và qua anh Nguyễn Minh Thơ tôi có duyên hạnh ngộ nữ tài tử Khánh Ngọc đã một thời vang bóng. Tôi chạnh nhớ đến trường Huấn Luyện Hải Quân với những chàng lính thuỷ mặc quân phục trắng, người thuỷ thủ đa tình nhưng không kém oai phong.
4 chiến hạm của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, đã tham dự trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ lãnh thổ vào năm 1974.
Chiến hạm HQ-10- Nhật Tảo, trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận. Chiến hạm HQ-16 bị hư hại nặng , nghiêng 15 độ. Chiến hạm HQ- 15 và HQ-4- Trần Khánh Dư bị hư nhẹ.
Gần 50 thuỷ thủ và Hạm trưởng Nguỵ Văn Thà của HQ-10 tử vong. Ngoài ra HQ-5 Trần Bình Trọng có 3 thuỷ thủ tử vong và 16 bị thương.
Hạm Trưởng Nguỵ Văn Thà và con tàu HQ-10 Nhật Tảo nằm lại biển khơi trong hải chiến Hoàng Sa.Ông đã hy sinh cùng đồng đội đền nợ nước, tiếp nối truyền thống hào hùng của Trần Bình Trọng , Trần Quốc Tuấn.
Trong một lần hải chiến
Anh nằm lại Hoàng Sa
Nhật Tảo chìm đáy nước
Bi tráng khúc hùng ca !
Trong một lần hải chiến
Anh nằm lại biển khơi
Chiến hạm đầy thương tích
Trường Sa tiếc thương người !
Anh theo gương Quốc Tuấn
Trần Bình Trọng hào hùng
Thiên hùng ca bất tử
Trận hải chiến lẩy lừng !
Bi tráng khúc hùng ca !
Trong một lần hải chiến
Anh nằm lại biển khơi
Chiến hạm đầy thương tích
Trường Sa tiếc thương người !
Anh theo gương Quốc Tuấn
Trần Bình Trọng hào hùng
Thiên hùng ca bất tử
Trận hải chiến lẩy lừng !
Sự hy sinh của Hạm trưởng Nguỵ Văn Thà cùng đồng đội trong trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974, là một thiên hùng ca bất tử mãi mãi vang vọng như nhạc hồn đất nước trong lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam (trích đăng của sử gia Trần Gia Phụng).
Trong một lần hải chiến
Thuỷ thủ chẳng trở về
Nằm lại trong lòng biển
Trường Sa bừng cơn mê!
Xin nghiêng mình ngưỡng mộ
Anh lính thuỷ tài ba
Người anh hùng biển cả
Anh người lính Cộng Hoà !
Bài thơ này xin trân trọng viết cho tất cả thuỷ thủ của Hải Quân, những người con ưu tú, những anh hùng bất tử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà của một thời chinh chiến. Anh chết để chúng ta được sống trong tự do, và tôi những người em gái hậu phương luôn tưởng nhớ đến các anh đã vì quê hương mà quên tình nhà. Đáng kính phục thay sự hy sinh cao cả của người trai thời chiến của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Biển và tôi gắn liền nhau từ lúc ấu thơ, khi di tản đến Hoa Kỳ tôi lại gắn bó với xứ biển Florida từ năm 1977. Florida cũng là nơi có 2 căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ lớn nhất trên Đại Tây Dương. Sỡ hữu bờ biển dài nhất nước Mỹ . Biển Daytona nổi tiếng với hội đoàn Harley Davision, Cocoa với căn cứ phi thuyền không gian, biển Miami, Key West, Clearwater, West Palm, St Persburg, Tampa... và hải đảo Captival, và Sanibel nổi tiếng với nhiều võ ốc phong phú và hải sản.
Sanibel Iland
Biển Daytona
biển Long Hải- 1995
Lần ngắm biển Long Hải đầu tiên khi đi hướng đạo sinh và xuýt đã bị sóng cuốn đi, lần thứ nhì khi chạy trốn cuộc ép duyên, tôi đến biển Vũng Tàu tìm anh khi mới 15. Lần thứ ba tôi đi dạo biển đầu tiên với một người đàn ông ở biển Long Hải, ông lớn tuổi nên tôi gọi bằng chú, lúc đó tôi rất buồn, tinh thần xuống dốc nên khi chú rủ tôi đi biển, tôi đi ngay không đắn đo suy nghĩ. Biển hôm ấy rất đẹp, nắng ấm áp, tôi có tâm sự buồn nên nhìn biển như đang than thở và lòng càng buồn hơn.Gió biển làm tôi lạnh và thật là cô đơn, tôi rất cần... rất cần vòng tay ấm áp của anh, nhưng anh đang ở đâu? Còn tâm trạng chú có lẽ vui hơn vì rủ được tôi ra biển, một cơ hội mà chú mong ước, kẻ vô tình mà người thì cố ý.
Chú rủ xuống tắm nhưng tôi lại từ chối, cho đến khi chú mướn phòng nghĩ, lúc ấy thì tôi mới hiểu ra, chú đã để ý đến tôi mà tôi không biết. Chú nào biết lòng tôi đang nổi sóng như ngọn sóng ngoài kia, và tôi đang chết đuối, đang dập dềnh trên ngọn sóng ấy, mà ai là người sẽ đưa tay vớt tôi lên, cái người đó không phải là chú rồi. Dù chú là người có danh vọng, nhưng tôi không ham những thứ đó, Tình Yêu là dâng hiến chứ không là gượng ép, mà sau đó lại sanh thêm hận oán. Biết tôi không bằng lòng nên chú không dám tiến tới nữa.
Em thấy gì trong biển
Mà sao đứng ngẩn ngơ
Đời chỉ là mộng huyễn
Gặp nhau chỉ tình cờ!
Tôi gặp lại anh miền biển Nha Trang, tôi đến bất ngờ và thật là tình cờ . Cũng chỉ một lần cùng anh dạo biển, một lần thôi cũng đủ mặn nồng cùng với biển, anh cho tôi tự do tâm tình cùng biển, anh không tìm hiểu tôi từ đâu tới, và đã làm gì trong quá khứ, cũng không đòi hỏi tôi phải làm gì trong tương lai. Anh tôn trọng chuyện riêng tư của tôi và luôn là bạn đồng hành, là người chồng chung thuỷ và thiện trí thức, bạn đạo và cũng là người thầy, luôn bên tôi an ủi và khuyến khích khi tôi bị trù dập, phỉ báng và vu oan.
Vô số chiều tôi ngồi một mình ngắm biển, từng đợt sóng không ngừng rượt đuổi nhau, tôi chao đảo theo đợt sóng, mà trong lòng vẫn ầm ì dội về từ quá khứ, mà cuộc tình của anh với tôi cũng như đợt sóng kia, chớp mắt đã tan như bọt biển. Từ ngày anh xa tôi thì nàng xuân cũng rủ áo ra đi, chưa một lần ghé qua vườn cũ, chặng đường thiếu anh mùa Xuân trở thành vô nghĩa. Tôi thở dài trong cô đơn tiếc nuối, trong gió biển lạnh đầy.
Hướng về biển Vũng Tàu mà lòng ray rức nhớ thương con, giờ này chắc con đang ngồi ngoài hàng ba đợi tôi, mà tủi thân vì có cha mẹ mà cũng như trẻ mồ côi, hằng đêm con có được yên giấc ngủ, hay phải thức giấc run sợ vì tiếng đạn pháo giữa đêm đen . Nghĩ đến đó tôi chợt thấy tim mình buốt đau, mặc cho những chàng lính trêu ghẹo, làm ngơ như không nghe gì cả, vì tôi chỉ nghe tiếng của biển thì thầm gọi tôi như lời của anh lúc giã từ:
"Em yêu đừng buồn khi anh đi! Dù sống hay chết anh luôn bên em bảo vệ cho em! Vợ yêu của anh đừng khóc! "
Tôi chợt nhớ đến anh, người y sĩ của Tiểu Đoàn 3 Dù, một người tình lỡ xứ Huế của Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Nhớ. Anh cho tôi Tình yêu chân thật, trân trọng và tương kính lẫn nhau. Thế mà tôi không đủ phước duyên để hưởng, chỉ chung sống với nhau 7 ngày hạnh phúc ngắn ngủi, rồi vĩnh viễn không gặp lại nhau nữa. Tôi đã âm thầm ra đi và không bao giờ trở lại, và từ đó tôi với anh như con đường sắt kia, dù chạy song hành nhưng không bao giờ gặp gỡ.
Biển nhắc nhở tôi đừng đắm chìm trong ảo mộng nữa, hãy quên đi quá khứ , thời gian đi không níu lại được, hãy trân trọng những gì mình đang có và biết tận hưởng những gì đời đã ban tặng. Hãy sống trong hiện tại mà tương lai thì chưa đến. Hãy như biển luôn
đón nhận những dấu chân trên cát, đã ấp yêu từng gót chân trần, rồi biển lại xoá đi không để lại một vết tích gì, nhưng rồi lại có những vết chân mới, rồi biển cũng tiếp tục làm công việc của mình, người cứ đến, biển không phân biệt đều đón nhận như nhau.
Vô số chiều tôi ngồi một mình ngắm biển, từng đợt sóng không ngừng rượt đuổi nhau, tôi chao đảo theo đợt sóng, mà trong lòng vẫn ầm ì dội về từ quá khứ, mà cuộc tình của anh với tôi cũng như đợt sóng kia, chớp mắt đã tan như bọt biển. Từ ngày anh xa tôi thì nàng xuân cũng rủ áo ra đi, chưa một lần ghé qua vườn cũ, chặng đường thiếu anh mùa Xuân trở thành vô nghĩa. Tôi thở dài trong cô đơn tiếc nuối, trong gió biển lạnh đầy.
"Em yêu đừng buồn khi anh đi! Dù sống hay chết anh luôn bên em bảo vệ cho em! Vợ yêu của anh đừng khóc! "
Tôi chợt nhớ đến anh, người y sĩ của Tiểu Đoàn 3 Dù, một người tình lỡ xứ Huế của Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Nhớ. Anh cho tôi Tình yêu chân thật, trân trọng và tương kính lẫn nhau. Thế mà tôi không đủ phước duyên để hưởng, chỉ chung sống với nhau 7 ngày hạnh phúc ngắn ngủi, rồi vĩnh viễn không gặp lại nhau nữa. Tôi đã âm thầm ra đi và không bao giờ trở lại, và từ đó tôi với anh như con đường sắt kia, dù chạy song hành nhưng không bao giờ gặp gỡ.
Anh là sân ga cho tầu cập bến
Người vô tình bỏ lại gánh sầu riêng
Đường song hành con tầu sau không đến
Sân ga buồn thê thiết tiếng còi đêm !
Ngày trở lại tôi không còn nơi đó
Anh có còn ra biển ngắm trăng sao
Biển chiều nay sóng cao lồng lộng gió
Mà kiếp này mình đã lạc mất nhau !
Biển nhắc nhở tôi đừng đắm chìm trong ảo mộng nữa, hãy quên đi quá khứ , thời gian đi không níu lại được, hãy trân trọng những gì mình đang có và biết tận hưởng những gì đời đã ban tặng. Hãy sống trong hiện tại mà tương lai thì chưa đến. Hãy như biển luôn
đón nhận những dấu chân trên cát, đã ấp yêu từng gót chân trần, rồi biển lại xoá đi không để lại một vết tích gì, nhưng rồi lại có những vết chân mới, rồi biển cũng tiếp tục làm công việc của mình, người cứ đến, biển không phân biệt đều đón nhận như nhau.
Biển tình trắng xoá rừng hoa
Cát mềm đón gót chân ngà chưa quen
Cát mềm đón gót chân em
Tưởng chừng ai đó một bên không rời !
Cát mềm đón gót chân ngà chưa quen
Cát mềm đón gót chân em
Tưởng chừng ai đó một bên không rời !
Chúng tôi từng đi qua những vùng biển quê nhà, lúc Long Hải, Vũng Tàu, khi Nha Trang, Mũi Né. Anh với tôi trầm mình hoà vào biển cả, mùi nước mặn làm mặn thêm tình nghĩa, làn sóng không cao cứ rượt đuổi theo nhau, đợt này tan thì đợt kia ập đến, đập vào gành đá tung bọt trắng xoá, gió lồng lộng từ ngoài khơi thổi vào mát rượi. Nước biển thật xanh biếc như bầu trời xanh trên cao, mây lơ lửng bay về nơi vô định, chợt thấy đời mình cũng lang bạt như đám mây kia. Anh nhìn tôi, hình như đọc được tư tưởng của tôi, nên anh nắm tay tôi bóp nhẹ, mỉm cười không nói, nhưng trong ánh mắt kia anh biết tôi đang nhớ đến con, nhớ những ngày xưa thân ái.
Những ngày cùng anh sống tại quê nhà, thật nhàn hạ và hạnh phúc, anh thường đèo tôi bằng Honda ra Vũng Tàu, ở đêm lại biệt thự của cháu Trang, chiều đến cùng nhau ngồi trên thành đá ăn bánh mì không tên của Vũng Tàu, bánh mì nóng dòn thật ngon, rồi ngắm Hòn Bà chìm dần vào hoàng hôn, ráng chiều nhấp nhô trên sóng, những cánh hải âu chấp chới bay xa... Tay tôi trong tay anh thật ấm, thật bình an. Dù cơn gió lạnh thoáng qua, nhưng lòng tôi rất ấm vì có anh bên cạnh, thời gian hình như đi quá nhanh khi có anh bên cạnh, thắm thoát đã hơn 37 năm.
Tiếng sóng biển gọi về từ Biển Nhớ
Lẻ loi buồn chấp chới cánh hải âu
Sóng nhấp nhô ráng chiều trên ngọn sóng
Người về đâu còn tôi sẽ về đâu?
Anh nằm lại bên kia đất Hứa
Bỏ lại mình tôi ở cuối trời
Cánh chim Do Thái không về nữa
Cát bụi lại về cát bụi thôi!
37 năm bên nhau, nghe thì thật dài, nhưng tôi cảm thấy như mới xảy ra hôm qua, con đã bỏ tôi đi trước cùng với mẹ tôi trong một ngày, cái đau mất mát đến cùng một lúc cả 2 người thân yêu làm tôi ngả gục. Sau một năm, chúng tôi trở về cúng cái giỗ đầy năm, sau đó thì về sống dài hạn. 8 năm sau anh lại cũng bỏ tôi ở lại. Những gì đời đã ban tặng cho tôi, thì cũng lấy lại hết, lấy nhiều hơn cái đã cho tôi.
Tro của anh tôi cũng nhờ thầy rải trên biển Melbourne (Florida). Anh đã nằm yên và hoà cùng với biển, và mỗi lần tôi trầm mình trong biển, tôi có cái cảm giác như ngày nào, anh với tôi cùng trầm mình trong biển, tay trong tay cùng nhảy sóng, tiếng cười vui vang trong gió át cả tiếng sóng rì rào.
Biển vẫn xanh , mây vẫn trắng, và cát vẫn ôm ấp gót chân tôi, cũng như anh đang nâng đỡ bước chân cô đơn của người goá phụ. Tôi chợt nghe tiếng của biển như tiếng thầm thì của anh:
"-Good night honey, I love you"
Dù trước hay sau, mọi người đều phải ra đi, còn biển thì vẫn tồn tại, tiếng sóng nghìn năm vẫn ru buồn , và vẫn rượt đuổi nhau không biết mỏi mệt. Cát vẫn tương tác lẫn nhau dưới chân, cũng như loài người sinh ra rồi huỷ diệt. Mặt trời vẫn chiếu sáng đem nắng ấm cho loài người sau những ngày mưa dầm, trăng hết khuyết lại đầy, soi sáng khắp cả nhân gian, trăng buông mình soi bóng trên biển, sông hồ, trên rừng núi hoang sơ.
Hiện tại, mọi người thân đều ra đi, trên dòng đời chỉ còn lại tôi với biển. Và Biển Nhớ vẫn mênh mông vô bờ, mà Biển Sầu lại sâu bất tận, mà Biển Tình thì lại hư hao. Tôi chạnh nhớ Ái Khanh, người bạn tri âm, tri kỷ, thường hay hỏi tôi cho vài bài thơ về biển. Ái Khanh bảo rằng rất nhiều kỷ niệm với biển Vũng Tàu.
Khi người bạn đời ra đi thì 2 năm sau Ái Khanh cũng đột ngột giã từ cõi tạm, tôi không kịp về để tiển đưa người tri kỷ lần cuối cùng. Tiếng sóng biển chiều nay như tiếng thầm thì trối trăng của em:
" -Chị có nhắn gì với anh Sandy không ?
Và tôi nghe tiếng nấc nghẹn ngào của em bên đầu dây điện thoại viễn liên. Và bên nay đầu dây nước mắt tôi cũng đã rơi. Và Ái Khanh Một Thời Để Nhớ đã không còn nữa, cái ước mơ về thăm lại biển quê hương em sẽ không bao giờ thực hiện được, tro của em cũng đã nằm lại trong lòng biển Florida.
Vì sức khoẻ, tôi lại phải đưa anh trở lại đất Hứa, và căn bệnh ung thư đã cướp đi mạng sống của anh, sau những tháng dài nằm trong bệnh viện. Sau tang lễ 100 ngày, tôi một mình khăn gói trở lại quê hương, cánh chim Do Thái đã nằm lại bên kia đất Hứa. Cát bụi lại trở về cùng bụi cát.Tôi không ra thăm biển Vũng Tàu nữa. Chiều nay có ai ngồi ngắm hoàng hôn trên Hòn Bà,có nghe tiếng sóng biển gọi về từ Biển Nhớ, có nhìn thấy cánh hải âu lẻ loi bay tìm bạn.
Anh nằm lại bên kia đất Hứa
Bỏ lại mình tôi ở cuối trời
Cánh chim Do Thái không về nữa
Cát bụi lại về cát bụi thôi!
Không chịu nỗi quạnh hiu tôi lại khăn gói trở về đất Hứa.Kỷ niệm biển Florida càng ray rức, ngày nào tôi chồng cùng con với rể nghĩ mát tại eo biển mang tên Doctor's Pass (Naples) , mẹ của rể có căn nhà ngay eo biển này. Tôi với rể dọc cát, vui đùa thoả thích, nước biển mát lạnh, biển rất vắng vì chỉ có những người có nhà trong khu này, người ngoài không vào được.
Tôi với con ngồi trên gành đá, con ôm lấy tôi trong vòng tay thật chặt nũng nịu, phía sau một cánh chim lẻ loi bay, lòng tôi chợt chùng xuống, chợt thương quá cánh chim lẻ bạn kia. Biển hôm nay dịu dàng, sóng vỗ nhè nhẹ lên bãi cát, gió cũng dịu êm thật nhẹ nên tóc chẳng bay .
Chúng tôi có những ngày trên biển Naplel thật đầm ấp và hạnh phúc, vui đùa với biển, tận hưởng cái hạnh phúc mình đang có , gạt bỏ những lo âu, những danh lợi, những phiền toái tỵ hiềm lại thành phố, để tâm hồn bớt căng thẳng sau bao năm vì miếng cơm manh áo, để đôi phút thư giản, tĩnh lặng mà nghe biển hát, một điệp khúc
của tiếng gọi vọng về từ Biển Nhớ, của biển Nha Trang, Vũng Tàu...
37 năm bên nhau, nghe thì thật dài, nhưng tôi cảm thấy như mới xảy ra hôm qua, con đã bỏ tôi đi trước cùng với mẹ tôi trong một ngày, cái đau mất mát đến cùng một lúc cả 2 người thân yêu làm tôi ngả gục. Sau một năm, chúng tôi trở về cúng cái giỗ đầy năm, sau đó thì về sống dài hạn. 8 năm sau anh lại cũng bỏ tôi ở lại. Những gì đời đã ban tặng cho tôi, thì cũng lấy lại hết, lấy nhiều hơn cái đã cho tôi.
Tro của anh tôi cũng nhờ thầy rải trên biển Melbourne (Florida). Anh đã nằm yên và hoà cùng với biển, và mỗi lần tôi trầm mình trong biển, tôi có cái cảm giác như ngày nào, anh với tôi cùng trầm mình trong biển, tay trong tay cùng nhảy sóng, tiếng cười vui vang trong gió át cả tiếng sóng rì rào.
Biển vẫn xanh , mây vẫn trắng, và cát vẫn ôm ấp gót chân tôi, cũng như anh đang nâng đỡ bước chân cô đơn của người goá phụ. Tôi chợt nghe tiếng của biển như tiếng thầm thì của anh:
"-Good night honey, I love you"
Dù trước hay sau, mọi người đều phải ra đi, còn biển thì vẫn tồn tại, tiếng sóng nghìn năm vẫn ru buồn , và vẫn rượt đuổi nhau không biết mỏi mệt. Cát vẫn tương tác lẫn nhau dưới chân, cũng như loài người sinh ra rồi huỷ diệt. Mặt trời vẫn chiếu sáng đem nắng ấm cho loài người sau những ngày mưa dầm, trăng hết khuyết lại đầy, soi sáng khắp cả nhân gian, trăng buông mình soi bóng trên biển, sông hồ, trên rừng núi hoang sơ.
Khi người bạn đời ra đi thì 2 năm sau Ái Khanh cũng đột ngột giã từ cõi tạm, tôi không kịp về để tiển đưa người tri kỷ lần cuối cùng. Tiếng sóng biển chiều nay như tiếng thầm thì trối trăng của em:
" -Chị có nhắn gì với anh Sandy không ?
Thanh Hiền- Ái Khanh ngày ra mắt thi phẩm Biển Nhớ 1992
Chiều Cocoa mưa buồn
Ta ngồi nghe biển hát
Không bao giờ quên anh
Không bao giờ quên em
Tôi trở lại biển Florida , trời hôm nay mây xám giăng kính vùng biển Melbourne. Tôi lang thang trên biển một mình, bóng đổ dài trên bờ cát nghe cô đơn chi lạ, tiếng sóng rì rào như lời than thở vọng về từ một quá khứ xa xôi. Bạn tình thì đã nằm lại nơi chiến trường xa, mà bạn đời cũng đã trở về cùng các bụi nằm lại dưới đáy biển kia, và đứa con gái thương yêu cũng giã từ cõi tạm, đến người bạn tri kỷ, tri âm cũng một cõi đi về .
Chỉ còn lại tôi với biển, và tôi lại tự hỏi: Nước biển từ đâu tới? Rồi nước sẽ về đâu? Vì sao nước biển cùng một vị mặn như nước mắt? Có lẽ nước biển mặn vì nước mắt của chúng sinh quá nhiều ? Tôi chợt "ngộ" ra, những người thương vẫn trong tôi, như tôi đang trong biển và biển cũng đang ở trong tôi.
Tôi thấy tôi trong biển
Biển thấy biển trong tôi
Biển cùng một vị mặn
Hương vị giải thoát thôi !
Chỉ còn lại tôi với biển, và tôi lại tự hỏi: Nước biển từ đâu tới? Rồi nước sẽ về đâu? Vì sao nước biển cùng một vị mặn như nước mắt? Có lẽ nước biển mặn vì nước mắt của chúng sinh quá nhiều ? Tôi chợt "ngộ" ra, những người thương vẫn trong tôi, như tôi đang trong biển và biển cũng đang ở trong tôi.
Bell thành phố sương mù 2016
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








































